Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy viết câu sáng tạo cho học sinh Lớp 1

Ở mỗi giai đoạn phát triển tâm lí có một hoạt động giữ một vị trí quan trọng, có ý nghĩa quyết định hình thành nên cái mới trong cấu trúc nhân cách của lứa tuổi tương ứng, người ta gọi là hoạt động chủ đạo. Khi còn ở lứa tuổi mẫu giáo, hoạt động chủ đạo của các em là vui chơi. Còn ở lứa tuổi Tiểu học, hoạt động chủ đạo của các em là học tập. Trẻ em cắp sách tới trường, hoạt động học tập làm cho các em có sự thay đổi cơ bản về những hành vi và mở ra cho các em những nguồn phát triển mới của sức mạnh nhận thức và đạo đức. Được chuẩn bị chu đáo về mặt tâm lý, trẻ em sẽ đến trường với niềm vui mới. Đến trường, các em bắt gặp nhiều điều mới mẻ mà ở nhà hay ở lớp mẫu giáo không có. Chúng đón nhận những cái mới đó một cách thích thú và do đó nhanh chóng tiếp cận những đòi hỏi, những yêu cầu của giáo viên. Đến trường các em không còn là “bé bỏng” mà là có nghĩa vụ và quyền lợi mới so với trước.

Hoạt động học tập lần đầu tiên trong cuộc sống của trẻ mang đến cho chúng những tri thức mới, những kỹ năng mới. Tri thức khoa học đến với đứa trẻ với tư cách là một hệ thống, những khái niệm, những quy luật mới … Cũng lần đầu tiên trẻ tập áp dụng những tri thức vào những bài tập từ dễ đến khó, tiếp xúc với những tri thức khoa học và mở rộng giao tiếp ra khỏi khuôn khổ chật hẹp trước đó.

Tuy nhiên, đến trường học, trẻ em cũng gặp những khó khăn “tâm lý” mà người lớn cần giúp các em khắc phục: Một là, các em phải làm quen và tuân thủ những nội quy của nhà trường. Khi ngồi trong lớp, các em phải giữ trật tự, không được làm việc riêng, không được phép nói chuyện … Những quy định này dễ làm trẻ mệt mỏi. Hai là, các em bước vào một quan hệ mới, quan hệ thầy trò, quan hệ với ban bè, đông đảo và phức tạp hơn nhiều so với tập thể trẻ ở mẫu giáo trước đây. Ba là, sau một giai đoạn học tập, trong đầu của trẻ em có thể xuất hiện sự “bão hòa” kiến thức mới.

doc 12 trang Thu Nga 20/03/2025 180
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy viết câu sáng tạo cho học sinh Lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy viết câu sáng tạo cho học sinh Lớp 1

Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy viết câu sáng tạo cho học sinh Lớp 1
 học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó,...)
 Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác.
2.2 Nhận thức lý tính
2.2.1 Tư duy
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động.
Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát
Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học.
2.2.2 Tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn. Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi.
Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,.... Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em.
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện.
2.3. Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau.
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ.
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng,....đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí,...Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng.
2.4. Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,...Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập.
Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình. Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài,...Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định.
Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian. Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ.
2.5. Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic
Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu.
Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em...
Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.
2.6. Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen, quét nhà để được ông cho tiền,...) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu. Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn.
Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em. Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời.
Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh tiểu học đòi hỏi ở nhà giáo dục sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ.
Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường thay đổi: đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút. Chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Bước đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết,...Tất cả đều là thử thách đối với của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trẻ 6 tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn trong cuộc đời. Môi trường thay đổi: đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 – 35 phút. Chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ.
Trong quá trình dạy chương trình SGK mới nói chung và dạy viết câu sáng tạo nói riêng, tôi cũng có những thuận lợi và khó khăn nhất định:
- Thuận lợi:
+ Cở sở vật chất của nhà trường khang trang, lớp học được trang bị phương tiện dạy học hiện đại.
+ BGH nhà trường luôn ủng hộ, tạo điều kiện cho giáo viên.
- Khó khăn: Vốn từ và kiến thức xã hộicủa học sinh quá ít; học sinh không biết cách diễn đạt ý nghĩ, nhu cầu mong muốn đề đạt của mình ...
Trước thực trạng đó, tôi đã điều tra khả năng nhận thức của học sinh và thu được kết quả như sau:
Khả năng nhận thức
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
TS
%
TS
%
TS
%
TS
%








Kiến thức sống
15
31,9
21
44,6
9
19,1
2
4,4
Vốn từ 
5

7
25


10

Kết quả viết câu
0
0
0
0
0
0
0
0

Chương II: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY VIẾT CÂU SÁNG TẠO CHO HỌC ĐẠI TRÀ LỚP 1
I. MỘT SỐ NGUYÊN TẮC TRONG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT
1. Đảm bảo tính khoa học và tính vừa sức.
2. Đảm bảo tính trực quan và tính tích cực tự giác
3. Đảm bảo tính hệ thống và vững chắc
4. Đảm bảo cân đối giữa học và hành, kết hợp dạy học với ứng dụng trong đời sống
II. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY VIẾT CÂU SÁNG TẠO CHO HỌC SINH ĐẠI TRÀ LỚP 1
 	 Từ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, tôi đã báo cáo cho tổ chuyên môn và BGH. Được sự ủng hộ của BGH, tôi mạnh dạn dạy viết câu sáng tạo cho học sinh lớp 1 bằng cách sử dụng các biện pháp sau:
1.Biện pháp 1: Dạy khái niệm câu
Trước tiên, ngay từ những bài học vần đầu tiên, tôi đã giới thiệu cho học sinh có trong SGK. Ví dụ: A, bà. – Bài 2 B b – Sách kết nối tri thức với cuộc sống. Đồng thời nhấn mạnh để học sinh biết câu là khi nói hoặc viết ra thì người đọc và người nghe đều hiểu được. Dấu hiệu nhận biết câu: Đầu câu viết hoa, cuối câu có dấu chấm.
Để làm tốt được điều này, ở giai đoạn học vần, tôi đã xây dựng hệ thống bài tập phát triển ngôn ngữ cho học sinh:
Dạng 1: Tìm tiếng (từ ngữ) có âm (vần ) đã học
Dạng 2: Đặt câu có âm (vần) đã học
Dạng 3: Nối từ ngữ ở cột trái với từ ngữ ở cột phải để tạo thành câu hoàn chỉnh
Dạng 4: Sắp xếp trật tự tiếng (từ ngữ) để tạo thành câu
Dạng 5: Viết tiếp để hoàn thiện câu
 2. Biện pháp 2: Khai thác và sử dụng đồ dùng trực quan triệt để
Đối với trẻ Tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng, đồ dùng trực quan vô cùng quan trọng đối với học sinh. Bởi lẽ, với học sinh “Trăm nghe không bằng một thấy”. Vì vậy, cũng ngay từ những bài học vần đầu tiên, sau phần khởi động, bao giờ tôi cũng cho học sinh quan sát tranh hoặc xem video; thảo luận nhóm nội dung bức tranh hoặc video vừa xem. Khi học sinh tương tác trong nhóm, các em đã chia sẻ ý nghĩ của mình, các em tự chỉnh sửa cho nhau, các em tự học ở nhau. Do đó, vốn từ và khả năng diễn đạt của các em đã tăng lên đáng kể. Chưa kể đến, khi giáo viên nhận định chốt ý kết quả thảo luận và đưa ra câu ứng dụng về nội dung tranh hoặc video thì một lần nữa học sịnh lại biết thêm một câu mới hoàn chỉnh về nội dung cũng như cách trình bày. Học sinh đọc câu ứng dụng, các em tiếp nhận một cách tự nhiên và bắt chước khi viết câu theo yêu cầu của giáo viên.
Tuy nhiên, đồ dùng trực quan phải sắc nét, đẹp, bắt mắt, gây hứng thú cho học sinh; diễn tả chân thực cuộc sống xung quanh; có tính giáo dục cao. 
. 3. Biện pháp 3: Bồi dưỡng và tích lũy vốn từ
3.1 Xây dựng phong trào đọc và tích lũy vốn từ
Bằng kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, học sinh đọc nhiều thì vốn từ, vốn sống, khả năng diễn đạt, khả năng viết đúng, tư duy ... của học sinh sẽ tiến bộ lên rất rõ rệt. Các em được học ngay từ những bài đọc. Chính vì vậy, ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đã phổ biến và yêu cầu mỗi buổi tối phụ huynh cùng con đọc một trang truyện tranh chữ to, yêu cầu được tăng dần ở các tuần tiếp theo. Sau khi đọc xong, phụ huynh hỏi con nội dung câu, đoạn vừa đọc. Với học sinh, tôi yêu cầu học sinh có sổ nhật kí viết lại nội dung vừa đọc. Nếu chưa biết viết học sinh thể vẽ, kí kiệu suy nghĩ của học sinh; viết lại từ ngữ có âm (vần) đã học ở lớp ngày hôm đó. Ngay trong lớp học, các em có tủ truyện di động, các em có thể lựa chọn quyển truyện mà mình yêu thích để đọc và kể cho nhau nghe. Nếu em chưa biết đọc, em có thể quan sát tranh, tưởng tượng ra câu chuyện. Cuối cùng, học sinh đăng kí với với giáo viên trình bày câu chuyện mình đã đọc vào các tiết hướng dẫn học, tiết ôn tập để đổi quà hoặc tích điểm. 
3.2 Bồi dưỡng vốn sống cho học sinh
Vốn sống, vốn hiểu biết vô cùng quan trọng. Nó chính là chất liệu giúp các em có nội dung, có hứng thú để viết. Thực tế cho thấy, khi các em có vốn sống thì nội dung câu viết của các em vô cùng phong phú, chân thực. Đôi khi có những bứt phá bất ngờ mà chính bản thân tôi cũng không thể nghĩ các em có thể viết tốt như thế. Chính vì vậy, ở các môn học tôi rất chú trọng bồi dưỡng vốn sống cho học sinh
VD: Môn Toán – Sách kết nối tri thức với cuộc sống – Trang 74
Thông qua hoạt động đọc số giờ đúng chỉ trên đồng hồ, tôi nhấn mạnh học sinh đặc điểm của các con vật: Con cú mèo ngày ngủ, đêm thức đi kiếm ăn. Mắt của nó có thể nhìn xuyên bóng tối; Con gà sáu giờ lên chuông đi ngủ 
Khi yêu cầu học sinh viết một câu về con vật mà em biết thì học sinh vô cùng hào hứng, nội dung đa dạng.
VD: Môn Tiếng Việt
Bài “Loài chim biển cả” – Sách kết nối tri thức với cuộc sống – trang 104
Tôi giới thiệu với học sinh hải âu chủ yếu sống trên mặt biển, bay trên mặt biển và nghỉ ngơi cũng trên mặt biến. Loài chim này có sải cánh dải tới 4 - 4,5 m . Sải cánh dài nhưng nhỏ và hẹp khiến chúng bay rất tài. Hải âu thường bay theo tàu biển để kiểm thức ăn. Guồng quay của con tàu làm bắn cả lên, hải âu kiếm cá ở đó. Những người lái tàu coi hải âu là điềm lành nên cũng thường lấy cá cho hải âu ăn. Khi trời sắp có bão, hải âu bay thành đàn tìm nơi trú ẩn. Do vậy, hải âu được xem là bạn của những người đi biển.
Tôi cũng hỏi thêm học sinh, ngoài con chim hải âu ra, con vật nào cũng giúp con người dự báo được thời tiết? 
Từ đó giới thiệu cho học sinh con cóc nghiến rang thì trời sắp mưa, con chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng bay vừa thì râm ..
Bài “Bảy sắc cầu vồng” – Sách kết nối tri thức với cuộc sống – trang 108
Tôi để học sinh khám phá và chốt ý: Hiện tượng cầu vồng là một hiện tượng thiên nhiên đặc biệt, không dễ bắt gặp như mưa, nắng, hay sấm, sét. Cầu vồng xuất hiện khi trời có mưa rào và tạnh một cách bất chợt và sau đó nắng bừng lên. Cầu vồng có hình vòng cung gồm 7 màu : đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Đây là hiện tượng ánh sáng mặt trời bị khúc xạ bởi những giọt nước , tạo nên những sắc mầu lung linh, huyền ảo. Cầu vồng xuất hiện và tan đi rất nhanh. Đồng thời, tôi cũng hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm thổi bong bóng để thấy được hiện tượng tán sắc ánh sáng và 7 màu: đỏ, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím.
Bài “Chúa tể rừng xanh” – Sách kết nối tri thức với cuộc sống – trang 110
Thông qua bài đọc, học sinh biết được hổ là loài thú lớn thuộc họ mèo, thường sống ở rừng sâu, bụi rậm, rừng thưa xen lẫn với đồi cỏ tranh. Ban ngày ngủ trong hang đá hay bụi rậm, ban đêm đi săn mồi. Thức ăn là các loài muông thú , trừ voi và trâu rừng . Hổ là loài thú quý hiếm cần bảo vệ.
3.3 Làm giàu vốn từ qua các tiết học 
Từ ngữ là nhân tố cơ bản để viết câu. Hiểu được nghĩa của từ, sử dụng đúng, sử dụng từ hay mới có thể diễn tốt nội dung, hay ý kiến của mình. Cách làm nhanh nhất là tôi đã khai thác triệt để qua các tiết tập đọc: giải nghĩa từ khó; tìm từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ đã cho; gạch chân những từ gợi tả gợi cảm
ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT CÁC CẤP
.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_day_viet_cau_sang_tao.doc